Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Đầu ngữ nhóm 9

Hãy click vào các con số sau để truy cập nhóm tương ứng

Nhóm  0  1  2  3  4  5  6  7  8  9

PrefixICAOIATAAirline NameCountry
900AMIL6Air MaldivesMaldives
901BOLB1Transportes Aereos BolivianosBolivia
902GROLLLineas Aereas AllegroMexico
903ASD4DAir SinaiEgypt
904RMLMVArmenian International AirwaysArmenia
905PCO8PPacific Coastal Airlines LimitedCanada
907ARRQNAir ArmeniaArmenia
908VAL4VVoyageur AirwaysCanada
909ABS9TTranswest AirCanada
910OASWYOman AirOman
912ABRAGAir ContractorsIreland
913STWZ3Star AirwaysTurkey
915RTLWERheintalflug SeewaldAustria
916MNXBABritish Airways CitiExpressUnited Kingdom
917APY7PAPA International AirUnited States
918CLTXCAir CaribbeanCura‡ao
919TCFS5Shuttle AmericaUnited States
921SLL6QSlovak AirlinesSlovakia
922PVVPCContinental AirwaysRussia
923CRLSSCorsairFrance
924AURGRAurigny Air ServicesGuernsey
925VDTPFVayudootIndia
926ROMBQAeromarUnited States
927LALWJAir LabradorCanada
928SSNBVSun AirSouth Africa
929ACQN6Aero ContinentePeru
930NIS6YTACA/Nicaraguense de AviaciónNicaragua
931MOSMOMISR Overseas AirwaysUnited Kingdom
932VIRVSVirgin Atlantic CargoUnited Kingdom
933NCAKZNippon Cargo AirlinesJapan
934EFR
Elf Air CoRussia
935ANOTLAirnorth RegionalAustralia
936TATIJTAT European AirlinesFrance
937AGUOGAir GuadaloupeGuadaloupe
938JEMG3Emerald AirwaysUnited Kingdom
939SBZZMScibe AirliftCongo DR
940BTCV9Bashkir AirlinesRussia
941NZAZQAnsett New ZealandNew Zealand
942TAOVWTransportes Aeromar SA de CVMexico
943VUNVUAir IvoireIvory Coast
945UDD5DDonbass AirlinesUkraine
947JOSL3DHL de GuatemalaGuatemala
951BLX6BTUIfly NordicSweden
952RSE
SNAS Worldwide ExpressSaudi Arabia
955PNV6ZPanavia Cargo AirlinesPanama
956RMER3Armenian AirlinesArmenia
957TAMJJTAM Linhas AereasBrazil
958INC7IInsel AirCura‡ao
959LHSLELaparkan AirwaysUnited States
960ELLOVEstonian AirEstonia
965RVLDOAir ValleeItaly
966AUY
Aerolineas UruguayasUruguay
967SPRPBProvincial AirlinesCanada
971HRHWRRoyal Tongan AirlinesTonga
972FRSIXFlandre AirFrance
974MONZBMonarch AirlinesUnited Kingdom
976MPXQOAeromexpress CargoMexico
978VLMVGVLM AirlinesBelgium
979TRAHVTransavia AirlinesNetherlands
980EQLKYAir Sao Tome e PrincipeSao Tome & Principe
982RGIYSRegionalFrance
983ARNQKAir Nova/Air Canada Regional AirlinesCanada
985SVVVCServivensa-Empresa Servicios AvensaVenezuela
986FOSVYFormosa AirlinesTaiwan ROC
987PFCP4Pacific International AirlinesPanama
988AAROZAsiana AirlinesSouth Korea
989GWLIJGreat Wall AirlinesChina PRC
990HILHSHighland AirSweden
991DAOD3Daallo AirlinesDjibouti
992DAED5DHL Aero ExpresoPanama
993
BHHawkairCanada
994BUC
Bulgarian Air CharterBulgaria
995BONJAB&H AirlinesBosnia-Herzegovina
996AEAUXAir EuropaSpain
997BBCBGBiman Bangladesh AirlinesBangladesh
998ERV
Yerevan AviaArmenia
999CCACAAir ChinaChina PRC

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014

Cách tính cước vận chuyển hàng không

Tuy theo điều kiện mua hàng mà người bán hoặc người mua sẽ phải trả cước vận chuyển và các phụ phí phát sinh cho đến khi hàng hóa được chuyển đến đích cuối cùng.



Ở đây, chúng ta không bàn đến việc ai là người trả tiền, chúng ta hãy phân đoạn các loại phí và cách tính cước nhé.

Quy trình nhập khẩu từ nước ngoài


Phân đoạn thứ nhất:
Từ nhà máy cho đến Sân bay sẽ gồm có cước vận chuyển, phí mở tờ khai hải quan, ngoài ra một số nước như Mỹ người ta bóc tách phụ phí xăng dầu (Drayage Charge) ra khỏi cước vận chuyển đường bộ.

Phân đoạn làm hàng tại cảng đi:
+ Phí handling hay còn gọi là phí bốc dỡ hàng hóa từ phương tiện vận tải xuống kho hàng hóa, và sắp sếp quản lý vào kho để chờ lên máy bay
+ Phí soi an ninh: X-ray fee và Security: Đây là lệ phí thu để bù cho hoạt động kiểm tra an ninh tại sân bay.
+ Phí phát hành vận đơn (AWB fee)

Phân đoạn trên máy bay:
+ Cước vận chuyển (Freight):
= chargeable Weight x mức cước.

Các mức cước thông dụng là -45, +45, + 100, +200, +300, +500.
Nếu kết quả có được nhỏ hơn mức MIN thì sẽ lấy cước MIN.
+ Phụ phí xăng dầu: Đây là phí được tách ra khỏi cước vận chuyển để đảm bảo giá cước vận chuyển được ổn định trong thời gian dài, tuy nhiên phụ phí xăng dầu có thể tăng hoặc giảm tùy theo giá dầu của thế giới.

Phân đoạn cảng đích:
+ Phí tách Bill: Nếu bên forwarder gộp nhiều House Bill lại với nhau thì tại Cảng đích, các công ty dịch vụ hàng hóa như NCTS, ACS sẽ thu phí tách bill
+ Phí THC. Phí này thu để bốc xếp hàng hóa từ máy bay vào kho, và từ kho lên phương tiện vận tải.
Phí THC sẽ tùy theo trọng lượng của hàng hóa mà có mức tính cước phù hợp. hoặc tùy theo hàng hóa là DG hay Heavy, Urgent..., ngoài ra còn có phí Overtime nữa...

Phân đoạn vận chuyển đến nhà máy người mua
Lúc này sẽ phát sinh cước vận chuyển đường bộ trên lãnh thỗ Việt Nam và phí mở tờ khai hải quan.

Nếu là xuất hàng đi nước ngoài thì quy trình ngược lại




Tìm hiểu về Thư tín dụng quốc tế LC

L/C là hình thức phổ biến hiện nay, đây là hình thức mà Ngân hàng thay mặt Người nhập khẩu cam kết với Người xuất khẩu/Người cung cấp hàng hoá sẽ trả tiền trong thời gian qui định khi Người xuất khẩu/Người cung cấp hàng hoá xuất trình những chứng từ phù hợp với qui định trong L/C đã được NH mở theo yêu cầu của người nhập khẩu

(Mẫu mở L/C được in sẵn do NH cấp)

Thông qua hình thức này, người nhập khẩu được tiếp cận với những chuẩn mực thanh toán quốc tế (hiện hành là: UCP 500 – Các qui tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ do Phòng thương mại quốc tế phát hành).

Là khách hàng mở L/C nhập khẩu của NH, Quý khách còn có thể yêu cầu NH tư vấn về những điều khoản thanh toán…tốt nhất phù hợp với thông lệ quốc tế để đạt hiệu quả.

Trong hình thức này, thực chất NH đã đứng ra bảo lãnh thanh toán cho người nhập khẩu. Vì vậy, NH sẽ đưa ra một số yêu cầu đối với khách hàng như: Đề nghị ký quỹ, vay vốn…Căn cứ vào khả năng thanh toán, uy tín của khách hàng, NH có thể áp dụng mức miễn, giảm ký quỹ khác nhau do Giám đốc từng địa bàn NH công bố trong từng thời kỳ cụ thể.

Trong nhiều năm qua, việc tuân thủ nghiêm túc các chuẩn mực thanh toán quốc tế đã tạo được sự tín nhiệm của đông đảo các Ngân hàng phục vụ Người xuất khẩu cũng như Người nhập khẩu mở L/C tại NH (để biết thêm chi tiết đề nghị Quý khách xem phần Hướng dẫn phía dưới)

- Ngoài thanh toán bằng L/C, NH còn thực hiện các phương thức thanh toán khác:

· Nhờ thu D/A (Nhờ thu theo hình thức chấp nhận thanh toán giao chứng từ)

· Nhờ thu D/P (Nhờ thu theo hình thức thanh toán giao chứng từ)

· Nhờ thu D/OT (Nhờ thu giao chứng từ theo điều kiện khác)

· Hoặc chuyển tiền đi (đề nghị Quý khách tham khảo phần Chuyển tiền)

THƯ TÍN DỤNG KHÔNG THỂ HUỶ NGANG – IRREVOCABLE L/C

I – Yêu cầu mở L/C :

1 – Nguồn vốn để đảm bảo thanh toán L/C:

Giả sử là trong hợp đồng các bên đã đồng ý thanh toán bằng L/C, Quý khách cần xem xét nguồn vốn để thanh toán cho L/C mà mình sẽ yêu cầu ngân hàng mở.

1.1 – L/C phát hành bằng vốn tự có, khách hàng ký quỹ 100%

1.2 – L/C phát hành bằng vốn tự có, khách hàng không ký quỹ đủ 100% và/ hoặc có yêu cầu miễn, giảm mức ký quỹ đề nghị Quý khách liên hệ với bộ phận Tín dụng nghiên cứu xem xét hoặc NH sẽ cung cấp đến Quý khách trong từng thời kỳ.

1.3 – L/C phát hành bằng vốn vay của NH, Quý khách liên hệ với bộ phận Tín dụng để xem xét.

2 – Đơn yêu cầu mở L/C:

Sau khi xem xét nguồn vốn, Quý khách căn cứ vào nội dung hợp đồng để làm đơn yêu cầu NH phát hành L/C. Để thuận tiện cho Quý khách NH đã có mẫu in sẵn theo tiêu chuẩn của ICC và của Tổ chức SWIFT quốc tế.

Quý khách đọc kỹ và điền vào các ô.

Vì ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của người mua, do vậy Quý khách nên xem xét kỹ nội dung của hợp đồng để đảm bảo khi đưa vào L/C không bị mâu thuẫn vì nếu có mâu thuẫn tức là người mua vi phạm hợp đồng.

Sau khi hoàn chỉnh đơn yêu cầu phát hành L/C, Khách hàng cần xuất trình tại NHNT các giấy tờ sau:

2.1 – Thư yêu cầu phát hành L/C (theo Mẫu )

2.2 – Một bản sao Hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc giấy tờ có giá trị tương đương như hợp đồng.

2.3 – Một bản sao Giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu (đối với khách hàng giao dịch lần đầu)

2.4 – Văn bản cho phép nhập khẩu của Bộ Thương mại hoặc Bộ quản lý chuyên ngành (đối với hàng nhập khẩu có điều kiện).

Sau khi xem xét nguồn vốn để đảm bảo thanh toán L/C của khách hàng, NHNT sẽ quyết định việc phát hành L/C.

* Riêng đối với L/C nhập khẩu bằng vốn vay của Chính Phủ, ODA, ngoài những qui định đã nêu ở trên khách hàng cần gửi cho NH những giấy tờ như: Phê duyệt sử dụng vốn vay Chính phủ, ODA của bộ Tài chính; phê duyệt Hợp đồng của Tổ chức tài trợ vốn vay.

II – Kiểm tra nội dung L/C

Sau khi NH phát hành L/C, Quý khách sẽ nhận được một bản sao L/C đó. Quý khách nên xem xét đối chiếu giữa nội dung L/C với đơn yêu cầu của Quý khách để đảm bảo rằng L/C hoàn toàn phù hợp với hợp đồng và với yêu cầu của Quý khách, đồng thời thông báo cho NH ngay những sai lệch nếu có.

III – Sửa đổi L/C

Nếu Quý khách có nhu cầu sửa đổi L/C , đề nghị Quý khách xuất trình Thư yêu cầu sửa đổi L/C (theo mẫu) kèm văn bản thoả thuận giữa người mua và người bán (nếu có).

IV – Nhận và kiểm tra chứng từ

Quý khách hàng sẽ nhận bộ chứng từ giao hàng theo L/C tại trụ sở NH. Sau khi nhận chứng từ Quý khách cần kiểm tra đối chiếu giữa nội dung L/C với các chứng từ nhận được, trường hợp có những khác biệt giữa L/C với chứng từ trong vòng 03 ngày làm việc Quý khách cần thông báo gấp cho NH để khiếu nại ngân hàng nước ngoài.

NH giao chứng từ khi Quý khách chấp nhận thanh toán bộ chứng từ và các chi phí liên quan (nếu có).

V – Yêu cầu phát hành Bảo lãnh/ uỷ quyền nhận hàng theo L/C.

NH thực hiện phát hành bảo lãnh nhận hàng khi chưa có vận đơn gốc hoặc phát hành thư uỷ quyền nhận hàng hoặc ký hậu vận đơn để Quý khách có thể nhận hàng theo L/C.

Điều kiện để NHNT phát hành Thư bảo lãnh – Thư uỷ quyền nhận hàng, ký hậu vận đơn gốc:

Quý Khách cần ký quỹ 100% trị giá hóa đơn, hoặc ủy quyền cho NH khoanh số tiền tương ứng trên tài khoản tiền gửi hoặc ghi nợ tài khoản tiền vay khi thanh toán và tuỳ từng trường hợp Quý khách cần xuất trình những giấy tờ sau:

1 – Phát hành Thư bảo lãnh nhận hàng: khách hàng phải có Thư yêu cầu phát hành bảo lãnh (theo mẫu) kèm 01 bản sao vận đơn đường biển hoặc vận đơn hàng không và 01 bản sao hoá đơn do người xuất khẩu gửi trực tiếp.

2 – Phát hành Thư uỷ quyền nhận hàng: khách hàng phải có Thư yêu cầu phát hành Uỷ quyền nhận hàng (theo mẫu) kèm 01 bản gốc vận đơn hàng không ghi người nhận hàng là NH kèm 01 bản sao hoá đơn.

3 – Ký hậu vận đơn đường biển: khách hàng phải có Thư yêu cầu ký hậu vận đơn (theo mẫu) kèm 01 bản gốc vận đơn đường biển và 01 bản sao hoá đơn.

VI – Thanh toán L/C:

NHNT sẽ trích tiền từ tài khoản đã được chỉ định của Quý khách hàng để thanh toán cho ngân hàng nước ngoài theo quy định của L/C khi nhận được bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều kiện, điều khoản của L/C.

VII – Hủy bỏ L/C

Nếu Quý khách có yêu cầu huỷ L/C cần lưu ý NH không chấp nhận huỷ L/C trong trường hợp:

1 – Khách hàng đã nhận hàng thông qua bảo lãnh nhận hàng của NH

2 – Có tranh chấp thương mại mặc dù hai bên mua bán thoả thuận nhưng chưa được sự chấp thuận huỷ L/C của các Ngân hàng liên quan.

VIII – Những điểm cần lưu ý khi lựa chọn hình thức thanh toán bằng L/C đối với người Nhập khẩu/Người mở L/C.

1. Trước khi mở L/C, người mua cần thỏa thuận cụ thể với người bán về các khoản thanh toán, lịch giao hàng, phương tiện giao hàng, và các chứng từ cần xuất trình.

2. Người mua phải nhận thức rằng L/C không phải là hình thức thanh toán an toàn tuyệt đối vì ngân hàng chỉ giao dịch trên chứng từ chứ không biết đến hàng hóa. Nếu chứng từ phù hợp với các điều kiện, điều hoản của L/C thì người mua phải trả tiền mặc dù hàng hóa đã giao không đúng với hợp đồng.

3. Đảm bảo chắc chắn là L/C phù hợp với hợp đồng

4. Các điều kiện của L/C phải đảm bảo ngắn gọn, dễ hiểu, không nên đưa vào L/C các nội dung quá chi tiết và các quy cách kỹ thuật quá phức tạp.

5. Trong quá trình giao dịch nếu có nghi ngờ, Quý khách hàng nên liên hệ ngay với NH để phối hợp xử lý.

6. Người mua cầm xem xét để tránh rủi ro do biến động tỷ giá ngoại tệ.



L/C TRẢ CHẬM CÓ/KHÔNG CÓ XÁC NHẬN

Đặc điểm

- Phương thức qui định việc thanh toán diễn ra vào một ngày xác định chậm hơn so với ngày chứng từ được chuyển đến ngân hàng phát hành (ví dụ: 90 ngày). Người xuất khẩu cho người nhập khẩu thêm thời gian để thanh toán. Tuy nhiên ngày thanh toán vẫn phải nằm trong thời hạn có hiệu lực của L/C. Do đó, L/C phải nêu rõ thời gian thanh toán.

- Trong trường hợp có xác nhận thì cả ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo (có thể là ngân hàng xác nhận) chịu trách nhiệm thanh toán đối với người xuất khẩu. Trong trường hợp không có xác nhận thì chỉ có ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm thanh toán đối với người xuất khẩu. Ngân hàng thông báo không có nghĩa vụ thanh toán đối với người xuất khẩu.

Trình tự giao dịch điển hình

- Người mua/người nhập khẩu và người bán/người xuất khẩu ký kết hợp đồng. Hợp đồng qui định rõ thời hạn thanh toán chậm.

- Người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng của mình (ngân hàng phát hành) mở L/C.

- Ngân hàng phát hành mở L/C và chuyển L/C đến ngân hàng của người bán/người xuất khẩu (ngân hàng thông báo/xác nhận).

- Ngân hàng thông báo tiến hành thông báo (xác nhận L/C nếu là L/C có xác nhận) cho người thụ hưởng.

- Khi nhận được L/C, người xuất khẩu sản xuất hàng hóa theo hợp đồng và giao hàng hoặc dịch vụ. Sau đó, lập chứng từ theo như yêu cầu của L/C chuyển tới Ngân hàng thông báo/xác nhận.

- Ngân hàng thông báo/xác nhận đến ngày thanh toán qui định trong hợp đồng sẽ tiến hành thanh toán cho người xuất khẩu.

Lợi thế

- So với L/C trả ngay, người nhập khẩu chỉ chịu trách nhiệm thanh toán khi đến ngày đáo hạn; do đó người nhập khẩu có thời gian để bán hàng, thu tiền hàng để trả cho nghĩa vụ trong L/C.

- Sử dụng L/C có xác nhận thì mức độ an toàn cho người xuất khẩu cao hơn. Techcombank chịu trách nhiệm đối với người xuất khẩu và do đó giúp người xuất khẩu giảm bớt được rủi ro.

- Nếu sử dụng L/C không xác nhận thì khách hàng không bị mất phí xác nhận.

Rủi ro/hạn chế

- Nếu sử dụng phương thức không xác nhận, người xuất khẩu có thể phải chịu rủi ro không được thanh toán nếu (i) xảy ra các biến cố không thuận lợi ở quốc gia nơi ngân hàng phát hành đặt trụ sở hoạt động, hoặc (ii) ngân hàng phát hành gặp khó khăn về khả năng thanh toán.

- Người xuất khẩu phải chịu các chi phí tài chính (lãi tiền vay, nếu có) trong thời gian cho trả chậm.

- So với phương thức thanh toán ghi sổ hoặc nhờ thu, thì chi phí liên quan đến các phương thức L/C trả chậm cao hơn.

Các nguyên tắc cơ bản

- Nếu người xuất khẩu có thể đánh giá mức độ rủi ro liên quan đến ngân hàng phát hành, thì người xuất khẩu không cần xác nhận – và như vậy sẽ giảm được chi phí xác nhận.

- Hình thức trả chậm phù hợp với với khách hàng có khả năng cho chịu.

- Trường hợp khách hàng cần độ an toàn cao hơn hoặc cần tài trợ cho giao dịch xuất khẩu.

+ Negotiation L/C – L/C có giá trị chiết khấu : L/C cho phép người hưởng có thể chiết khấu bộ bô chứng từ tại 1 ngân hàng chỉ định (nominated bank) hay tại bất kỳ NH nào.Trong L/C NH mở cam kết hòan trả tiền cho NH chiết khấu đã được chỉ định hay bất kỳ NH nào theo quy định của L/C.

+ L/C at Sight – trả ngay : NH mở L/C cam kết trả tiền ngay cho người hưởng lợi khi xuất trình bộ chứng từ hợp lệ.Trong L/C có thể yêu cầu người hưởng lợi ký phát hối phiếu trả ngay để đòi tiền.

CÁC LOẠI L/C KHÁC



Thư tín dụng dự phòng (Standby letter of Credit SBLC)



L/C dự phòng là một tín dụng chứng từ hay là dàn xếp tương tự, thể hiện nghĩa vụ của ngân hàng phát hành tới người thụ hưởng trong việc:



- Thanh toán lại khoản tiền mà người yêu cầu mở L/C dự phòng đã vay hoặc được ứng trước.

- Thanh toán khoản nợ của người mở L/C dự phòng.

- Bồi thường những thiệt hại do người mở L/C dự phòng không thực hiện nghĩa vụ của mình.

- Do đó L/C dự phòng được xem như là phương tiện thanh toán thứ yếu. Sự khác nhau về L/C thương mại và L/C dự phòng là L/C thương mại hoạt động trên cơ sở thực hiện hợp đồng của người bán. Ngược lại, L/C dự phòng đảm bảo cho người thụ hưởng trong trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện.

Trong L/C dự phòng, ngân hàng mở ghi rõ L/C này chỉ có giá trị thực hiện khi có sự vi phạm nghĩa vụ của người xin mở L/C ngược lại nếu không có sự vi phạm ấy, L/C dự phòng sẽ không được thực hiện.L/C dự phòng được sử dụng như một hình thức bảo lãnh trong một phạm vi rất rộng bao gồm các họat động thưong mại , tài chính.

Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving Letter of Credit)

Thư tín dụng tuần hoàn là một cam kết từ phía ngân hàng phát hành phục hồi lại giá trị ban đầu của thư tín dụng sau khi nó đã được sử dụng. Số lần phục hồi và khoảng thời gian còn hiệu lực phải được quy định trong L/C.

- Tín dụng tuần hoàn có thể được tích lũy hoặc không.

- Trường hợp L/C tuần hoàn tích lũy, số tiền đã sử dụng có thể được thêm vào cho lần giao hàng kế tiếp.

- Trường hợp tín dụng tuần hoàn không tích lũy, những khoản tiền từng phần không được sử dụng sau khi đã hết thời hạn hiệu lực.

- Tín dụng tuần hoàn thường được sử dụng trong các trường hợp người mua muốn hàng hóa được giao từng phần tại những thời điểm quy định (hợp đồng giao hàng nhiều lần).

L/C có thể tuần hòan theo 3 cách : . Tự động (automatic) : Sau khi xử dụng xong L/C lại tự động có giá trị như cũ, không cần thông báo của NH mở. Trong L/C ghi ” we open irrevocable L/C revolving monthly.The full amount again becomes available under the same terms and conditions, on the first day of each calendar month, .

Bán tự động (part automatic) : Sau khi sử dụng L/C, trong một thời hạn nhất định, nếu không có thông báo gì từ phía ngân hàng mở L/C thì một L/C mới với các điều kiện tương tự lại tiếp tục có hiệu lực. Trong L/C ghi ” this will be operative for the second & third shipment unless otherwise notice by us. .

Hạn chế (restrictive) phải có thông báo của ngân hàng mở về hiệu lực của một L/C mới được tái lập thì L/C đó mới có giá trị. L/C ghi ” reinstatement by us by way of amendment. L/c có thể tuần hòan theo số tiền hoặc thời gian, khi tuần hòan theo thời gian , L/C phải ghi rõ ngày hết hiệu lực của mỗi lần tuần hòan, đồng thời phải quy định rõ L/C đó là tuần hòan tích lũy hay không tích lũy.

L/C chuyển nhượng (Transferable Letter of Credit)

Người thụ hưởng trong L/C chuyển nhượng có quyền yêu cầu ngân hàng của mình chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ tín dụng cho người thụ hưởng khác.



- Các chứng từ trong L/C chuyển nhượng nên được yêu cầu để có thể được sử dụng theo như L/C gốc.

- Người thụ hưởng trung gian có quyền thay thế hóa đơn của L/C chuyển nhượng bằng hóa đơn của mình.

- Số tiền bảo hiểm cho việc chuyển nhượng nên lập bằng với số tiền bảo hiểm trong L/C gốc.

- Thư tín dụng chỉ có thể được chuyển nhượng giống như các điều khoản quy định trong L/C gốc.

Với L/C này người hưởng lợi đầu tiên (1st beneficiary) có quyền chuyển nhượng tòan bộ hay từng phần L/C đó cho 1 hay nhiều người hưởng lợi thứ 2 (second ben. ) Trừ khi L/C có quy định khác (ví dụ: transferable without restritive), một L/C chuyển nhượng chỉ có thể chuyển nhượng 1 lần từ người hưởng lợi đầu tiên tới 1 hay nhiều người hưởng thứ 2.Tuy nhiên người hưởng thứ 2 tái chuyển nhượng cho người hưởng đầu lại không bị cấm và người hưởng đầu vẫn có quyền tiếp tục chuyển nhượng L/C cho 1 người khác. Những phần của L/C chuyển nhượng cho nhiều người không được vượt quá tổng số tiền của L/C và có thể chuyển nhượng riêng rẽ miễn là trong L/C không ngăn cấm giao hàng và thanh tóan từng phần. L/C được chuyển nhượng theo các điều khỏan, điều kiện đã quy định trong L/C, ngọai trừ : • • • • • Số tiền (thường ít hơn) Đơn giá ( thấp hơn) Thời hạn hiệu lực (ngắn hơn) Thời hạn xuất trình chứng từ (sớm hơn) Thời hạn gửi hàng (có thể sớm hơn) Ngòai ra tên của người hưởng lợi thứ nhất có thể thay thế cho tên của người yêu cầu mở L/C.



Thư tín dụng giáp lưng (Back-to-Back Letter of Credit)

- L/C giáp lưng là một tín dụng mới mở dựa trên cơ sở một L/C đã có – tín dụng không chuyển nhượng (tín dụng gốc) – cho một người thụ hưởng khác (do đó còn có tên là giáp lưng).

L/C giáp lưng là 1 L/C biệt lập được mở trên cơ sở của L/C gốc (cùng với điều kiện của L/C gốc) còn gọi là L/C thứ 2 trên cơ sở 1 L/C thứ nhất. L/C giáp lưng cũng được dung trong mua bán qua trung gian như L/C chuyển nhượng.

Điều khác nhau giữa L/C chuyển nhượng và giáp lưng là NH phát hành L/C giáp lưng hòan tòan chịu trách nhiệm thanh tóan bộ chứng từ hợp lệ theo L/C mà mình mở không rang buộc bởi L/C gốc . Nghĩa vụ của hai ngân hàng phát hành L/C gốc và L/C giáp lưng là hòan tòan độc lập với nhau. Người hưởng L/C gốc trở thành nguời mở L/C giáp lưng nên họ phải thực hiện nghiêm ngặt nghĩa vụ của người mở L/C. Trong nghiệp vụ L/C giáp lưng người cung cấp hàng hóa hòan tòan yên tâm về thanh tóan vì họ chỉ có nghĩa vụ thực hiện L/C thứ 2 do người trung gian mở

- Red clause L/C (anticipatory)

- L/C có điều khỏan đỏ : Là lọai L/C có điều kiện cho phép người hưởng được nhận một khỏan tiền trước khi giao hàng trên cơ sở hối phiếu trơn hay hối phiếu kèm chứng từ chứng minh rằng đã có hàng để giao như biên lai kho hàng (warrant hay warehouse ‘ receipt) biên lai của người giao nhận (forwarder ‘s receipt ) thông thường khi nhận khỏan tiền ứng trước này , người hưởng lợi có thể viết cam kết cho ngân hàng là sẽ xuất trình một bộ chứng từ theo quy định của L/C sau đó . Khỏan ứng trước sẽ được khấu trừ vào tiền thanh tóan bộ chứng từ.

- Reciprocal L/C – L/C đối ứng

Là lọai L/C chỉ có hiệu lực khi có 1 L/C khác đối ứng với nó đã được phát hành. L/C này được sử dụng trong giao dịch hàng đổi hàng và gia công hàng xuất khẩu. Cả 2 bên đều là người mua , người bán của nhau. Đặc điểm nổi bật của L/C này là điều khỏan thanh tóan. Trong quy định việc chấp nhận và/hoặc thanh tóan của L/C này chỉ có hiệu lực sau khi ngân hàng phát hành nhận đủ số tiền theo L/C số…ngày..do ngân hàng..phát hành (the acceptance and or payment under this L/C is valid only after our receipt of full proceeds under L/C No…dated issued by…) Đơn giản hơn có thể trong 2 L/C này đều ghi chỉ được thanh tóan khi 1 L/C khác đối ứng với nó được mở ra. L/C đối ứng xét về bản chất chỉ là một nửa L/C do sự cam kết có điều kiện của ngân hàng. Ở các nước khac, đã từ lâu không còn sử dụng L/C này , song ở Việt Nam lọai L/C này vẫn còn được sử dụng, đặc biệt trong quan hệ gia công tái xuất, vì nó giúp các nhà kinh doanh VN có thể gia công hàng xuất khẩu mà không cần vốn.

“L /C đối ứng (Reciprocal L/C) thường được sử dụng trong giao dịch gia công hàng xuất khẩu, theo đó cả hai bên đều đóng vai trò là nhà nhập khẩu và xuất khẩu. L/C đối ứng được phát hành hoặc chỉ có hiệu lực khi có một L/C khác đối ứng với nó đã được phát hành. Khác với những L/C thông thường được thanh toán/chấp nhận thanh toán khi chứng từ xuất trình phù hợp, L/C đối ứng là L/C thanh toán có điều kiện, theo đó Ngân hàng Phát hành (NHPH) L/C đối ứng cam kết thanh toán chỉ sau khi nhận được đầy đủ tiền hàng theo L/C khác đối với L/C do NHPH đó phát hành. Điều kiện thanh toán điển hình của L/C đối ứng thường được NHPH quy định tương tự như sau: “Đây là L/C đối ứng với L/C số … ngày …. được phát hành bởi Ngân hàng….. Khi nhận được chứng từ phù hợp, chúng tôi (NHPH) sẽ chấp nhận hối phiếu/chứng từ và sẽ thực hiện thanh toán hối phiếu/chứng từ đáo hạn chỉ sau khi nhận được đầy đủ tiền hàng theo L/C số ……….. ngày …… do Ngân hàng ……. phát hành”.

Ví dụ sau đây có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về L/C đối ứng:

Shingbang Ltd., Co (Hàn Quốc) ký một hợp đồng gia công hàng may mặc với Garment Company No. 5 (Việt Nam), theo đó Shingbang Ltd., Co mở L/C nhập thành phẩm (Master L/C) cho người hưởng là Garment Company No. 5 và L/C Garment Company No. 5 mở L/C nhập nguyên liệu trả chậm 90 ngày cho người hưởng là Shingbang Ltd., Co.

Khi nhận được L/C, ví dụ, L/C No. 123 dated 20/2/2008 được phát hàng bởi Korex Bank Seoul, Garment Company No. 5 yêu cầu ngân hàng của mình (Vietcombank Da Nang) phát hành L/C trả chậm (deferred payment L/C) 90 ngày đối ứng với L/C trên cho người hưởng là Shingbang. L/C đối ứng do Vietcombank Da Nang phát hành có thể quy định về điều kiện thanh toán như sau: “This L/C is reciprocal to L/C No. 123 dated 20/4/2008 issued by Korex Bank, Seoul. Upon receipt of the documents complying with the L/C terms, we shall incur a deferred payment undertaking but the payment ưhen due shall be effected only after our full receipt of the proceeds under L/C No. 123 dated 20/4/2008”.

L/C đối ứng phổ biến chủ yếu ở một số nước Châu Á. Ở Việt Nam loại L/C này được phát hành phổ biến ở những năm 90 khi các công ty dệt may Việt Nam gia công hàng may mặc cho các công ty ở Hàn Quốc. Hiện nay loại L/C hầu như không còn được sử dụng rộng rãi.” nguồn trích dẫn từ Blog Nguyễn Hữu Đức

- Defered L/C -L/C trả dần:

L/C trong đó quy định việc trả tiền làm nhiều lần cho người bán sẽ được thực hiện sau 1 thời gian nhất định kể từ ngày giao hàng (date of B/L) hoặc ngày xuất trình chứng từ (presentation date) Theo L/C này, người bán giao hàng và xuất trình chứng từ như L/C quy định.Khi bộ chứng từ được NH xác định là hợp lệ, NH sẽ chấp nhận thanh tóan và thực hiện việc trả tiền vào ngày đáo hạn như đã quy định, có thể trả 1 lần hoặc nhiều lần theo thỏa thuận.

- Confirm L/C -L/C có xác nhận :

Là lọai L/C không hủy ngang do 1 NH mở và được NH khách xác nhận, tức là đảm bảo trả tiền theo yêu cầu hoặc theo sự ủy nhiệm của NH mở. Sự xác nhận của NH này là 1 cam kết chắc chắn cộng thêm vào cam kết chắc chắn của NH mở. Việc xác nhận L/C thường do người hưởng lợi đề nghị khi họ không tin tưởng vào khả năng tài chính của NH mở L/C hoặc không chấp nhận những rủi ro chính trị tồn tại hay tiềm ẩn ở nước của NH mở. Việc xác nhận L/C được thể hiện ngay trên L/C hay bằng 1 văn thư riêng. NH xác nhận có nghĩa vụ trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu không bảo lưu khi người hưởng xuất trình bộ chứng từ hợp lệ . Trách nhiệm của NH xác nhận cũng tương tự như trách nhiệm của NH phát hành.NH xác nhận có thể xác nhận 1 L/C nhưng không xác nhận mọi tu chỉnh sau đó (ví dụ tăng tiền,gia hạn hiệu lực…..) nếu họ thấy có thể phát sinh rủi ro trong thanh tóan. Trong trường hơp này trách nhiệm của NH xác nhận chỉ giới hạn trong phạm vi mà họ xác nhận. Phí xác nhận thường cao hơn cả phí mở L/C về nguyên tắc do người mua trả nhưng cũng có thể thỏa thuận phân chia chi phí đều cho cả 2



L/C USANCE PAID AT SIGHT (Tham khảo từ nguồn Blog Nguyễn Hữu Đức)

Mới đây một người bạn đồng nghiệp có gửi cho người viết bài này một bản sao LC có nội dung hơi khác so với những LC thông thường và hỏi đó là loại LC gì, được phát hành trong trường nào và nhằm mục đích gì … Xem qua nội dung người viết nhận ra ngay đây là LC UPAS (Usance Paid At Sight) – một loại LC trả chậm nhưng thực tế người hưởng lợi được thanh toán ngay – thỉnh thoảng được phát hành bởi một số ngân hàng ở Châu Á, đặc biệt là các ngân hàng Hàn Quốc. Người viết đã từng có dịp làm quen và tìm hiểu về loại LC này, do vậy, xin được giới thiệu chi tiết với các đồng nghiệp và bạn đọc quan tâm để khi gặp những LC tương tự sẽ không ngạc nhiên và có thể giải thích cặn kẻ cho khách hàng.
Hình thức của LC UPAS
Về hình thức, khác với 4 loại LC thường gặp như:

(i) LC thanh toán ngay (Sight Payment LC) – có giá trị thanh toán tại NHPH hoặc tại ngân hàng được chỉ định (NHĐCĐ) bằng cách thanh toán ngay ;

(ii) LC chiết khấu (Negotiation LC) – có giá trị thanh toán tại NHĐCĐ bằng cách chiết khấu hối phiếu trả ngay;

(iii) LC chấp nhận (Acceptance LC) – có giá trị thanh toán tại NHPH hoặc tại NHĐCĐ bằng cách chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn; và (iv) LC trả chậm (Deferred Payment LC) – có giá trị thanh toán tại NHPH hoặc tại NHĐCĐ bằng cách cam kết thanh toán có kỳ hạn,

LC UPAS có kết cấu vừa giống LC chấp nhận (vì có yêu cầu xuất trình hối phiếu trả chậm) nhưng lại vừa giống LC chiết khấu (vì hối phiếu trả chậm đó sẽ được thanh toán bằng cách chiết khấu trên cơ sở trả ngay).
Để tiện nhận biết loại LC này, dưới đây người viết xin được trích một số nội dung cơ bản từ một LC được phát hành dưới dạng điên swift MT 700 bởi Ngân hàng A ở Hàn Quốc:
“……
41D: Available with …. By ……
ANY BANK BY NEGOTIATION
42C: Drafts at ….
BENEFICIARY DRAFTS 90 DAYS AFTER B/L DATE
42A: Drawee
BANK B
53A: Reimbursing bank
BANK B
……..
78: Instructions to the Paying/Accepting/Negotiating Bank
+ BENEFICIARY TIME DRAFT SHALL BE NEGOTIATED ON AT SIGHT BASIS AND SHOULD BE FORWARDED TO THE DRAWEE BANK (BANK B).
+ ALL DOCUMENTS MUST BE FORWARDED DIRECTLY TO US (BANK A) IN ONE LOT BY COURIER SERVICES
….. “
Phần trích dẫn nêu trên cho thấy Trường 41D (Thanh toán) và Truòng 42C (Hối phiếu) thể hiện LC có giá trị thanh toán bằng cách chiết khấu hối phiếu có kỳ hạn 90 ngày sau ngày vận đơn..Tuy nhiên, tại Trường 78 (Các chỉ thị đối với ngân hàng chiết khấu/chấp nhận/thanh toán), Ngân hàng A (NHPH) lại chỉ thị hối phiếu có kỳ hạn sẽ được chiết khấu trên cơ sở trả ngay và gửi cho ngân hàng bị ký phát (Ngân hàng B) để được hoàn trả, còn tất cả các chứng từ (ngoại trừ hối phiếu) phải gửi trực tiếp cho Ngân hàng A.
Giao dịch liên quan đến LC UPAS được thực hiện như thế nào ?
Giao dịch LC UPAS gồm 10 bước thực hiện như sau:
1. Nhà nhập khẩu (người mở LC) và nhà xuất khẩu (người thụ hưởng) thoả thuận điều kiện bán hàng, theo đó nhà xuất khẩu sẽ được trả tiền ngay.
2. Nhà nhập khẩu đề nghị ngân hàng của minh tài trợ nhập khẩu thanh toán bằng LC, thời gian tài trợ là 90 ngày hoặc 180 ngày sau ngày nhận được chứng từ hoặc sau ngày vận đơn (90 or 180 days sight or after B/L date), tuỳ theo nhu cầu và khả năng hoàn trả của nhà nhập khẩu.
3. NHPH phát hành LC UPAS yêu cầu hối phiếu trả chậm 90/180 ngày ký phát đòi tiền ngân hàng hoàn trả được chỉ định ( a nominated reimbursing bank – NHHT), thường là một chi nhánh địa phương của NHPH và nêu rằng người hưởng lợi sẽ được thanh toán ngay với mọi chi phí lãi do người mở LC chịu.
NHPH cũng sẽ gửi cho NHHT một uỷ quyền hoàn trả có điều kiện trả tiền giống như LC quy định. Uỷ quyền đó cũng sẽ yêu cầu NHHT chấp nhận và chiết khấu hối phiếu theo thoả thuận giữa NHPH và NHHT.
4. Người hưởng lợi thực hiện giao hàng và xuất trình chứng từ cho ngân hàng địa phương của mình để được thanh toán ngay.
5. Ngân hàng địa phương kiểm tra chứng từ và nếu chứng từ phù hợp thực hiện yêu cầu hoàn trả như sau:
(i) Các chứng từ gốc ngoại trừ hối phiếu được gửi cho NHPH.
(ii) Hối phiếu cùng với thư đòi tiền được gửi cho NHHT.
6. NHHT nhận được hối phiếu sẽ thực hiện theo uỷ quyền hoàn trả, tức là chấp nhận và chiết khấu hối phiếu. Số tiền hối phiếu sau đó được chuyển cho ngân hàng của người hưởng lợi (trừ phí hoàn trả).
NHHT sau đó sẽ liên hệ NHPH thông báo rằng hối phiếu đã được xuất trình, chấp nhận và chiết khấu và thông báo ngày đáo hạn của hối phiếu và tất cả các loại phí liên quan đến việc chấp nhận và chiết khấu hối phiếu.
7. Nhận được điện thông báo từ NHHT và chứng từ từ ngân hàng của người hưởng lợi, NHPH kiểm tra chứng từ và nếu chứng từ phù hợp, sẽ thông báo cho người mở LC ngày đáo hạn và tất cả các loại phí. NHPH cũng sẽ giao chứng từ cho người mở LC để nhận hàng.
8. Ngân hàng của người hưởng lợi khi nhận được tiền thanh toán từ ngân hàng hoàn trả thực hiện ghi có tài khoản của người hưởng lợi sau khi trừ phí.
9. Khi hối phiếu đáo hạn thanh toán, NHPH sẽ thanh toán cho NHHT số tiền hối phiếu UPAS và các chi phí phát sinh (phí hối phiếu UPAS có thể được thanh toán trước tuỳ theo thoả thuận giữa NHPH và NHHT).
10. Khi hối phiếu đáo hạn thanh toán, NHPH sẽ thu số tiền hối phiếu UPAS và các chi phí phát sinh từ người mở LC (các phí có thể được thu trước tuỳ theo thoả thuận giữa NHPH và người mở LC).
Một điều quan trọng cần lưu ý là nghĩa vụ thanh toán của NHPH đối với NHHT là hoàn toàn tách biệt với nghĩa vụ thanh toán của người mở LC đối với NHPH. NHPH có nghĩa vụ phải thanh toán cho NHHT ngay cả khi không được người mở LC thanh toán.
LC UPAS được phát hành trong trường hợp nào và ai sẽ được hưởng lợi từ giao dịch này ?
Quy trình thực hiện giao dịch LC UPAS cho thấy LC UPAS được phát hành khi nhà nhập khẩu (người mở LC) muốn nhập hàng trả ngay nhưng lại muốn NHPH tài trợ, trong khi NHPH vì lý do nào đó lại muốn ngân hàng được chỉ định thanh toán (thông thường là một chi nhánh địa phương của NHPH) thực hiện việc tài trợ trên cơ sở bảo đảm của NHPH. Giữa NHPH và ngân hàng được chỉ định (NHĐCĐ) có một thoả thuận riêng mà người mở LC không nhất thiết phải là một bên tham gia vào giao dịch đó.
Quy trình thực hiện giao dịch LC UPAS cũng cho thấy hầu như các bên liên quan, trong chừng mực nào đó, đều có thể hưởng lợi từ giao dịch LC UPAS.
- Người mở LC có thể hưởng lợi đôi đường: (i) được tài trợ 90-180 ngày, tuỳ theo nhu cầu và khả năng trả nợ; (ii) có thể mua hàng hoá với giá thấp hơn, kéo theo thuế nhập khẩu phải trả sẽ ít hơn.
- Đối với người hưởng lợi thì đây là cơ hội tốt nhất để: (i) có thể bán hàng lấy tiền ngay thay vì cấp tín dụng thương mại cho người mua và ngồi chờ số tiền đáo hạn; (ii).có thể bán với giá hợp lý bởi nếu đợi 90 ngày hoặc 180 ngày, giá cả thường sẽ tăng lên;
- NHPH có thể hưởng một số lợi ích sau: (i) tài trợ giao dịch mà không phải bỏ vốn; (ii) trong sổ sách kế toán của NHPH giao dịch này có thể được thể hiện là một nghĩa vụ trực tiếp không được cấp vốn bởi việc thanh toán thực tế được NHĐCĐ thực hiện trả tiền trên cơ sở bảo đảm của NHPH; và (iii) có thể hưởng lợi từ chênh lệch lãi suất giữa lãi suất của NHĐCĐ và lãi suất áp dụng đối với khách hàng của mình.
- NHĐCĐ cũng hưởng lợi nhờ thu phí dịch vụ bao gồm phí chấp nhận và chiết khấu hối phiếu trả chậm..
Hi vọng những giải thích trên đây, trong chừng mực nào đó, có thể giúp một số cán bộ tác nghiệp LC và bạn đọc quan tâm hiểu sâu hơn về loại LC UPAS./.
Tài liệu tham khảo:
- Abdulkader Bazara: On financing under a sight LC (lcviews.com)
- LC Sam: UPAS (letterofcredìtforum.com)”

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

Kịp thời tháo gỡ 9 nhóm vướng mắc về VNACCS/VCIS

Gần 1 tháng triển khai Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập. Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã kịp thời đưa ra giải pháp tháo gỡ để tạo thuận lợi cho cộng đồng DN, cho hoạt động XNK.


Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc   Ảnh: T.Bình. 
Thông qua nhiều kênh thông tin, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã nhận được 9 nhóm nội dung vướng mắc liên quan đến Hệ thống VNACCS/VCIS, bao gồm: Xác nhận, đóng dấu tờ khai giấy; Giới hạn tối đa 50 dòng hàng trên một tờ khai hải quan; Một tờ khai chỉ khai báo cho một hóa đơn; Hàng hóa luân chuyển giữa các DN chế xuất cùng một tập đoàn; Thông quan điện tử của hải quan; Sự thiếu đồng bộ trong thông tin của Ngành về lệ phí tờ khai; số lần sửa tờ khai là 9 lần nhưng khi đã hoàn thành việc khai hải quan, DN vẫn chưa được đảm bảo hàng hóa sẽ được thông quan; Trường khai mã hàng hóa quá ngắn (độ dài của mã hàng hóa).
Với tinh thần cầu thị, kịp thời giải quyết vướng mắc cho DN, không gây ách tắc đối với hoạt động XNK khi thực hiện VNACCS/VCIS, ngay sau khi tiếp nhận các vướng mắc nêu trên, ngày 22-4, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã chủ trì cuộc họp, tại trụ sở Cục Hải quan Hải Phòng (một trong 2 đơn vị đầu tiên triển khai chính thức và là đơn vị đầu tiên hoàn thành việc thực hiện VNACCS/VCIS tại 100% chi cục để xử lý vấn đề). Tham dự cuộc họp có Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc; các đồng chí Phó Tổng cục trưởng: Vũ Ngọc Anh, Nguyễn Văn Cẩn; ông Hiroki Sakurai- Cố vấn trưởng Dự án VNACCS/VCIS; thủ trưởng 5 Cục Hải quan trọng điểm (Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai) và vụ, cục liên quan thuộc Tổng cục Hải quan.
Theo yêu cầu của Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn, các đại biểu đã thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, vướng mắc và đưa ra giải pháp tháo gỡ cho từng nội dung cụ thể. Với trách nhiệm và sự khẩn trương cao độ, tất cả vướng mắc đã được Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn kết luận về giải pháp tháo gỡ để thực hiện thống nhất trong toàn Ngành.
1. Về xác nhận, đóng dấu tờ khai giấy: Theo yêu cầu quản lí của các cơ quan quản lí chuyên ngành thì khi vận chuyển hàng hóa trên đường phải có tờ khai hải quan có xác nhận của cơ quan Hải quan và tờ khai hải quan dùng cho hoàn thuế tại cơ quan Thuế. Vì vậy, tờ khai hải quan điện tử sẽ phải thiết kế cho phép sử dụng cho cả 2 mục đích trên.
Tờ khai luồng Vàng, luồng Đỏ, cơ quan Hải quan sẽ in và xác nhận trên tờ khai giấy tại nơi đăng kí tờ khai; tờ khai luồng Xanh, DN tự in và xuất trình tại khu vực giám sát (của cơ quan Hải quan), cơ quan Hải quan kiểm tra để xác nhận phục vụ cho mục đích vận chuyển trên đường và hoàn thuế tại cơ quan Thuế nội địa.
Mẫu tờ khai in sẽ được thiết kế để đảm bảo những thông tin cần thiết cho việc hoàn thuế và vận chuyển trên đường.
2. Giới hạn tối đa 50 dòng hàng trên một tờ khai hải quan: Điểm a khoản 3 Điều 10 Thông tư 22/2014/TT-BTC quy định “Một tờ khai hải quan được khai tối đa 50 dòng hàng”. Để đảm bảo Hệ thống VNACCS vận hành ổn định, phản hồi tự động trong vòng 1 đến 3 giây việc giới hạn dung lượng mỗi lần khai báo đến Hệ thống VNACCS là hết sức cần thiết. Quy định trên để đảm bảo hiệu năng hoạt động của Hệ thống VNACCS, tránh những rủi ro do nghẽn đường truyền gây ảnh hưởng đến thời gian thông quan của hàng hóa.
Để giảm thiểu các chi phí phát sinh của DN khi áp dụng quy định mới, Tổng cục Hải quan sẽ quy định chỉ thu lệ phí cho tờ khai đầu tiên của lô hàng.
Một lô hàng có trên 50 dòng hàng được khai báo trên nhiều tờ khai, cơ quan Hải quan chỉ yêu cầu người khai xuất trình, nộp 1 bộ hồ sơ hải quan cho cả lô hàng khi tờ khai được phân luồng Vàng, luồng Đỏ. Người khai hải quan cũng chỉ phải lưu giữ 1 bộ hồ sơ tương ứng với các tờ khai đã khai báo.
Về kết quả phân luồng khác nhau giữa các tờ khai nhánh trong cùng một lô hàng, cơ quan Hải quan sẽ nghiên cứu quy định theo hướng phân luồng thống nhất dựa trên cơ sở đánh giá quá trình tuân thủ pháp luật hải quan của DN.
3. Một tờ khai chỉ khai báo cho một hóa đơn: Điểm c khoản 3 Điều 10 Thông tư 22/2014/TT-BTC quy định “Một tờ khai chỉ khai báo cho một hóa đơn”. Đây là quy định mang tính hỗ trợ người khai hải quan trong việc tính toán trị giá tính thuế và tính tổng số thuế khi Hệ thống VNACCS căn cứ thông tin hóa đơn để tự động phân bổ trị giá tính thuế và tính thuế của từng dòng hàng trên tờ khai.
Do loại hình chế xuất không bị quản lí bởi chính sách thuế và trị giá tính thuế, Tổng cục Hải quan tiếp thu ý kiến góp ý của DN (chế xuất) và quy định đối với hàng hóa XNK của đối tượng DN này, một mặt hàng có nhiều hợp đồng/đơn hàng, có một hoặc nhiều hóa đơn thương mại của một người bán hàng, cùng điều kiện giao hàng, giao hàng một lần và có một vận đơn thì người khai hải quan được khai trên một tờ khai hải quan.
Đồng thời, Tổng cục Hải quan tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn áp dụng khai nhiều hóa đơn trên một tờ khai cho các đối tượng khác.
4. Hàng hóa luân chuyển giữa các DN chế xuất cùng một tập đoàn: Quy định về việc hàng hóa luân chuyển giữa các DN chế xuất không cùng một KCX nhưng các DN chế xuất này thuộc một tập đoàn hay một hệ thống công ty thì được lựa chọn  không phải làm thủ tục hải quan hoặc làm thủ tục hải quan theo loại hình XNK tại chỗ đã được quy định thống nhất tại điểm e3 khoản 5 Điều 24 Thông tư 22/2014/TT-BTC và điểm e3 khoản 3 Điều 49 Thông tư 128/2013/TT-BTC.
Đối với thủ tục hải quan điện tử, việc giám sát hàng hóa luân chuyển giữa các DN chế xuất được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Thông tư 22/2014/TT-BTC.
5. Thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ đối với DN ưu tiên: Thực hiện Khoản 2 Điều 20 Thông tư 86/2013/TT-BTC khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử theo quy định tại Thông tư 22/2014/TT-BTC, DN ưu tiên và các đối tác thực hiện XK tại chỗ trước, NK tại chỗ sau. DN ưu tiên được khai tờ khai NK tại chỗ tương ứng với nhiều tờ khai XK tại chỗ và ghi nhận cụ thể các tờ khai XK tại chỗ tại “Phần ghi chú” trên Tờ khai hàng hóa NK.
6. Thông quan điện tử của hải quan: Trong giai đoạn đầu triển khai VNACCS/VCIS còn có một số vướng mắc trong kĩ năng khai báo của người khai hải quan và việc phối hợp giữa các Chi cục Hải quan đã và chưa triển khai Hệ thống nên phát sinh một số vướng mắc đối với hàng hóa XK. Cơ quan Hải quan sẽ thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao hiệu quả của thủ tục hải quan điện tử như: Hoàn thiện các hệ thống CNTT (vệ tinh) để đảm bảo VNACCS/VCIS vận hành thông suốt; ban hành các văn bản hướng dẫn các Chi cục Hải quan để kịp thời xử lí các vướng mắc, đẩy nhanh thời gian thông quan. 
7. Sự thiếu đồng bộ trong thông tin của ngành về lệ phí tờ khai: Để giảm thiểu các vướng mắc liên quan đến điều kiện ân hạn thuế, Bộ Tài chính sẽ có văn bản quy định về việc trao đổi dữ liệu điện tử giữa các ngân hàng thương mại - Kho bạc Nhà nước - Thuế - Hải quan. Đồng thời hướng dẫn DN có quá trình chấp hành tốt pháp luật hải quan được phép xuất trình chứng từ nộp tiền tại ngân hàng để phục vụ việc thông quan ngay trong trường hợp chưa kết nối để trao đổi thông tin nộp thuế giữa ngân hàng và hải quan.
Cơ quan Hải quan đã cải tiến quy định cho phép DN được nộp lệ phí theo tháng. Theo quy định thì việc nộp lệ phí hải quan không ảnh hưởng đến điều kiện ân hạn thuế và vấn đề hoàn thuế.
Trường hợp DN còn vướng mắc sẽ phản ánh kịp thời theo đường dây nóng hoặc gửi vướng mắc tại mục “Tiếp nhận vướng mắc vận hành Hệ thống VNACCS” trên website của Tổng cục Hải quan (www.customs.gov.vn).
8. Số lần sửa tờ khai là 9 lần nhưng khi đã hoàn thành việc khai hải quan, DN vẫn chưa được đảm bảo hàng hóa sẽ được thông quan: Quy định cho phép sửa tờ khai hải quan trước khi kiểm tra thực tế hàng hóa 9 lần là một ưu việt đối với thủ tục hải quan điện tử thực hiện theo Thông tư 22. Để tránh việc sửa đổi, bổ sung quá nhiều lần DN cần nghiên cứu kĩ các hướng dẫn khai báo các chỉ tiêu thông tin đã được quy định tại Phụ lục II Thông tư 22 và các hướng dẫn được đăng tải trên website của Tổng cục Hải quan.
Tổng cục Hải quan phấn đấu đến 30-9-2014 tỉ lệ tờ khai sửa chỉ chiếm 3% đến 5% tổng số tờ khai. Để thực hiện được việc này, Tổng cục Hải quan sẽ triển khai các giải pháp: Tổ chức đào tạo cho các công chức hải quan trong dây chuyền nghiệp vụ nắm vững kĩ thuật nghiệp vụ và thao tác trên Hệ thống. Xây dựng các cẩm nang hướng dẫn thao tác trên Hệ thống, mô tả các công việc cụ thể cần thực hiện trong dây chuyền nghiệp vụ phục vụ cho công chức hải quan thực hiện trong quá trình xử lí tờ khai. Tổ chức các khóa đào tạo miễn phí cho DN tại địa bàn để nắm vững các kĩ thuật khai báo trên Hệ thống trước khi triển khai chính thức.
9. Trường khai mã hàng hóa quá ngắn: Vấn đề độ dài của mã hàng hóa đã được cơ quan Hải quan ghi nhận và xử lí trước thời điểm triển khai chính thức Hệ thống. Theo đó đối việc khai mã hàng hóa đảm bảo 8 kí tự theo đúng quy định tại Danh mục hàng hóa XNK Việt Nam. Đối với mã nguyên phụ liệu, mã sản phẩm XK phục vụ cho việc thanh khoản, hoàn thuế cho phép khai tối đa 48 kí tự.

Trung Đông “chờ” hàng Việt

Sức mua lớn, khả năng thanh toán cao do nguồn tài chính dồi dào và nhu cầu cơ cấu mặt hàng nhập khẩu phù hợp với những mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, thị trường Trung Đông đang thu hút các doanh nghiệp và nhà đầu tư Việt Nam.


Điện thoại và linh kiện đang dẫn đầu giá trị kim ngạch xuất khẩu sang Trung Đông
Theo ông Lê Bá Ngọc, Tham tán Thương vụ Việt Nam tại Kuwait, Chính phủ Kuwait vừa thông qua một số dự án hạ tầng lớn như dự án xây 50.000 biệt thự, 6 bệnh viện quy mô lớn, một thành phố quy mô 400.000 dân . Đây là cơ hội rất lớn cho sản phẩm gỗ, vật liệu xây dựng và lao động của Việt Nam vào thị trường này.
Thời gian qua, sản phẩm đồ gỗ Trung Quốc chiếm lĩnh đến 90% thị trường Kuwait. Tuy nhiên, gần đây xu hướng người dân nước này dần chuyển sang sử dụng đồ gỗ Việt Nam nhiều hơn vì chất lượng ổn định, mẫu mã đẹp.
Bên cạnh tiềm năng về xuất khẩu các sản phẩm đồ gỗ, vật liệu xây dựng vào Kuwait trong thời gian tới, người dân Kuwait hiện rất chuộng mặt hàng tôm nhập từ Việt Nam. Sức mua tại thị trường Kuwait rất lớn, tập trung các sản phẩm như thiết bị ô tô, gia vị, dừa sấy (cơm dừa), bánh kẹo, rau củ quả. Trong năm 2013, Kuwait nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam với kim ngạch gần 80 triệu đô la Mỹ.
“Ngoài các sản phẩm, nhu cầu lao động cho những dự án hạ tầng lớn tại Kuwait rất nhiều, bình quân mỗi năm Kuwait cần từ 80.000- 100.000 lao động và đây là cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của Việt Nam”- ông Ngọc cho biết.
Thực tế cho thấy, nếu trong năm 2010 Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Đông với kim ngạch khoảng 1,6 tỉ đô la Mỹ thì đến năm 2013 hàng Việt Nam xuất sang Trung Đông đã tăng gấp 4 lần với kim ngạch gần 6,7 tỉ đô la Mỹ.
Xét cơ cấu hàng xuất khẩu, năm 2013 mặt hàng điện thoại di động và linh kiện của Việt Nam xuất sang thị trường Trung Đông đạt kim ngạch 4,1 tỉ đô la Mỹ, kế đến là các sản phẩm sợi các loại 324 triệu đô la Mỹ, hàng hải sản 212 triệu đô la Mỹ và các sản phẩm như sữa và sản phẩm sữa, vải, hạt tiêu, dệt may, giày dép các loại, cao su, gạo, gỗ và sản phẩm gỗ …
Thị trường Trung Đông với 15 nước gồm Ả Rập Xê Út, Bahrain, Qatar, Kuwait, Jordan, Iran, Iraq, Israel, Lebanon, Oman, Palestin, Thổ Nhĩ Kỳ, Các Tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE), Syria, Yemen với tổng dân số khu vực này khoảng 322 triệu người, đa số người dân theo Hồi giáo và khu vực này cũng có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt chiếm ba phần tư trữ lượng thế giới.
Ông Trần Quang Huy- Vụ trưởng Vụ thị trường châu Phi, Tây Á, Nam Á (Bộ Công Thương)- cho hay, hiện có 17.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại Ả Rập Xê Út và khoảng 8.000 lao động đang làm việc tại UAE. Nhu cầu lao động tại hai thị trường này tiếp tục tăng cao.
Mặc dù khu vực Trung Đông có sức mua lớn, nhưng ông Huy cũng lưu ý doanh nghiệp Việt Nam những rủi ro khi làm ăn tại thị trường này, cần cảnh giác với những thương vụ quá hấp dẫn, đối tác không mở thư tín dụng (L/C), cần soạn thảo hợp đồng nêu chi tiết những điều khoản rõ ràng hoặc thậm chí cần nêu rõ trường hợp xảy ra tranh chấp thì xử ở đâu, xử theo luật nào và bằng ngôn ngữ cụ thể.
Để khắc phục các rào cản về thị trường Trung Đông, đặc biệt là rào cản về thông tin, phong tục, tập quán, văn hóa và thủ tục hành chính, các doanh nghiệp Việt Nam cần phát huy triệt để các loại kỹ thuật nghiên cứu thị trường quốc tế bằng việc giành một khoản ngân sách thỏa đáng vào công việc này về xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển và vận dụng hiệu quả các kỹ thuật phân tích thị trường tại địa bàn.
Bên cạnh đó, tích cực rà soát thị trường, tìm hiểu thông tin từ mạng internet, các trang web Chính phủ, doanh nghiệp, phân tích cơ hội từ xa thông qua các kênh thông tin từ Bộ Công Thương, Thương vụ Việt Nam tại nước sở tại, kinh nghiệm các doanh nghiệp đi trước, đối tác nước ngoài để phát triển quan hệ với đối tác.

Hùng Cường

XK gạo sang Trung Quốc sẽ sôi động trở lại?

Tình hình xuất khẩu gạo sang Trung Quốc từ đầu năm đến nay gặp không ít khó khăn, tuy nhiên, theo một số nhà chuyên môn và doanh nghiệp, thời gian tới xuất khẩu gạo vào thị trường này sẽ sôi động hơn, đặc biệt khi Việt Nam vừa giành được quyền cung cấp 800.000 tấn gạo cho Philippines.


Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), tính đến nay, xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp hội viên thuộc đơn vị này đạt hơn 1,3 triệu tấn, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm khoảng 40%, giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái.
Lý giải nguyên nhân xuất khẩu gạo sang Trung Quốc từ đầu năm đến nay gặp khó khăn, ông Nguyễn Đình Bích, Chuyên gia phân tích thị trường lúa gạo Việt Nam (Bộ Công Thương) cho biết: “Tình hình khó khăn thời gian qua chẳng qua do nguồn cung trong nước nhiều, doanh nghiệp “dìm” nhau, kéo giá xuống để tranh thủ bán ra. Trong bối cảnh như thế, các nhà nhập khẩu Trung Quốc cũng không dại gì phải nóng vội mà mua vào, họ sẽ chờ doanh nghiệp Việt Nam đua nhau hạ giá, kéo giá xuống mức thích hợp thì mới bắt đầu mua”.
Tuy nhiên, theo ông Bích, khi Việt Nam giành được hợp đồng xuất khẩu 800.000 tấn gạo cho Philippines, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh nhập khẩu gạo của Việt Nam bởi vì nguồn cung trong nước sẽ giảm đáng kể, trong khi đó, gạo Việt Nam vẫn là ưu tiên lựa chọn của Trung Quốc.
Đồng quan điểm này, ông Lâm Anh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Thịnh Phát- doanh nghiệp hội viên của VFA- cũng cho rằng xuất khẩu gạo Việt Nam sang Trung Quốc sắp tới chắc chắn sẽ sôi động hẳn lên.  
Theo phân tích của một số nhà chuyên môn, yếu tố vị trí địa lý là điều rất quan trọng khiến nguồn cung của Việt Nam có giá cạnh tranh (phí vận chuyển rẻ hơn Thái Lan khoảng 10 đô la Mỹ/tấn) và trở thành ưu tiên lựa chọn số 1 của Trung Quốc.
Bà Ngô Ngọc Yến, Giám đốc doanh nghiệp gạo Yến Ngọc, TP.HCM - đơn vị chuyên xuất khẩu gạo tiểu ngạch sang Trung Quốc- cũng tin tưởng xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường này sẽ tăng lên trong những tháng tới. “Với ưu thế không bị cạnh tranh bởi Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan; lượng gạo trong nước chẳng còn nhiều khi phần lớn được sử dụng để cung cấp cho hợp đồng 800.000 tấn ở Philippines, tôi nghĩ nhà nhập khẩu Trung Quốc sẽ nhanh chân mua vào thôi”, bà Yến cho biết.  
Về diễn biến tình hình giá lúa gạo nội địa, thông tin Việt Nam trúng thầu cung cấp gạo (15% tấm) cho Philippines (từ tháng 5-8-2014) tiếp tục kéo giá lúa gạo sáng nay (19-4) tăng thêm 50 đồng/kg so với mức giá trước đó hai hôm.
Cụ thể, gạo nguyên liệu của giống IR 50404 tại Đồng bằng sông Cửu Long có giá dao động khoảng 6.500-6.600 đồng/kg và lúa IR 50404 tươi có giá khoảng 4.200-4.300 đồng/kg.
Trong khi đó, giá chào xuất khẩu gạo mấy ngày qua vẫn ổn định và hiện gạo 5% tấm được chào bán với giá 380-390 đô la Mỹ/tấn; gạo 25% tấm có giá 350-360 đô la Mỹ/tấn và gạo thôm Jasmines có giá 490-500 đô la Mỹ/tấn.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc trong năm 2013 đạt hơn 3 triệu tấn, gồm cả tiểu ngạch và chính ngạch.
Theo Kinh Tế Sài Gòn

Việt Nam đứng thứ 2 XK giày dép sang Tây Ban Nha


Việt Nam tiếp tục đứng thứ hai trong xuất khẩu giày dép sang thị trường Tây Ban Nha, sau khi cung cấp hơn 27,7 triệu đôi, trị giá 268,5 triệu euro trong năm 2013.

CôngThương - Theo thống kê của Liên đoàn công nghiệp giày dép Tây Ban Nha (FICE), so với năm 2012, xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang quốc gia Nam Âu này tăng gần 11% về số lượng, nhưng giảm 1,1% về kim ngạch.
Bình quân mỗi đôi giày dép Việt Nam xuất sang Tây Ban Nha trị giá 9,67 euro, giảm gần 11% so với năm 2012.
Trong những năm gần đây Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc trong xuất khẩu mặt hàng này sang Tây Ban Nha, trừ năm 2011, năm Việt Nam phải nhường vị trí “á quân” cho Bồ Đào Nha.
Giày dép và phụ kiện là một trong những nhóm sản phẩm Việt Nam xuất nhiều nhất sang Tây Ban Nha trong năm 2013.
Năm ngoái Trung Quốc tiếp tục là nước xuất khẩu giày dép lớn nhất sang Tây Ban Nha, với 237,8 triệu đôi, trị giá 781,5 triệu euro, tăng 2,5% về khối lượng nhưng giảm 5,7% về giá trị.
Xét về kim ngạch, trong nhập khẩu giày dép năm 2013 từ châu Á, Tây Ban Nha giảm nhập từ Indonesia (giảm 37,2%, còn 73,4 triệu euro), Ấn Độ (giảm 14%, còn 78,6 triệu euro), Thái Lan (giảm 2,9%, còn 18,5 triệu euro), nhưng tăng nhập từ Campuchia (tăng 42,7%, lên 14,4 triệu euro), Đài Loan (tăng 31,4%, đạt 4,1 triệu euro), và Bangladesh (tăng 14%, lên 33 triệu euro).
Năm ngoái Tây Ban Nha nhập tổng cộng 329 triệu đôi, trị giá 2,07 tỷ euro, tăng 3,7% về số lượng và 0,9% về kim ngạch.
Mặt khác, trong năm 2013 quốc gia Nam Âu này đã xuất 134,8 triệu đôi, thu lượng ngoại tệ kỷ lục 2,26 tỷ euro, tăng 1,9% về số lượng và 10,3% về kim ngạch.
Các nước nhập nhiều giày dép của Tây Ban Nha là Pháp, Italy, Đức, Bồ Đào Nha, Anh, Mỹ, Bỉ, Hà Lan và Nhật.
Theo Vietnam+